Khi phải rút abstract xuống dưới giới hạn của tạp chí, gần như lần nào chỗ cắt được nhiều nhất cũng nằm ở hai câu đầu, không phải ở phần kết quả.
Đó là kiểu hỏng phổ biến nhất khi viết abstract cho bài báo tiếng Anh: Background viết bốn năm câu, Results còn đúng một câu chung chung. Tỉ lệ đúng phải ngược lại.
Viết abstract cho bài báo tiếng Anh: vì sao Background hay nuốt mất chỗ
Vì Background là phần dễ viết nhất. Bạn thuộc bối cảnh đề tài, viết ba câu về nó không tốn công, và viết xong thì thấy như đã làm được việc.
Nhưng người đọc abstract không cần bạn dựng lại cả lĩnh vực. Họ cần hai câu: vấn đề chung là gì, và chỗ trống cụ thể mà bài này nhắm vào. Hết. Mọi câu Background thứ ba trở đi đều đang lấy chỗ của một con số lẽ ra nên xuất hiện.
Người quét abstract để quyết định có đọc tiếp không, và người phản biện đọc lướt lần đầu, đều tìm cùng một thứ: bạn làm gì, trên bao nhiêu người, ra số bao nhiêu. Nếu ba thứ đó không nằm rõ trong abstract, bài của bạn bị xếp vào nhóm chưa rõ ràng ngay từ vòng đầu.
Khung tám câu cho bài định lượng
Khung này dành cho bài có số liệu, kiểu nghiên cứu quan sát hoặc thử nghiệm lâm sàng. Mỗi câu một vai trò cố định.
Khung 8 câu
- Bối cảnh chung của vấn đề, một câu.
- Khoảng trống cụ thể trong y văn mà bài này nhắm tới.
- Thiết kế nghiên cứu và nơi thực hiện.
- Đối tượng, cỡ mẫu, biến số chính, cách phân tích.
- Kết quả chính thứ nhất, kèm con số và khoảng tin cậy.
- Kết quả chính thứ hai, hoặc phân tích dưới nhóm quan trọng.
- Một kết quả phụ đáng chú ý, hoặc một chỉ số an toàn.
- Kết luận một câu, nói thẳng ý nghĩa, không hứa quá số liệu.
Hai câu Background, hai câu Methods, ba câu Results, một câu Conclusion. Kể cả khi tạp chí yêu cầu abstract một đoạn liền không tiêu đề, bạn vẫn nghĩ theo bốn khối này rồi mới nối lại.
Cắt câu nào khi vượt giới hạn
Tạp chí hay giới hạn 200, 250 hoặc 300 từ. Khi phải cắt, cắt theo thứ tự này chứ đừng cắt đều mỗi chỗ một ít.
Cắt câu 7 trước. Kết quả phụ là thứ người đọc tra được trong bài, không cần nằm ở abstract.
Rồi rút câu 1. Bối cảnh chung gần như luôn viết được ngắn hơn một nửa, và đây thường là chỗ ra được nhiều từ nhất.
Rồi gộp câu 3 và câu 4. Thiết kế với cỡ mẫu thường nhét chung một câu được mà không rối.
Đừng cắt câu 5 và 6. Đừng đổi con số thành chữ để tiết kiệm từ, kiểu bỏ khoảng tin cậy đi cho gọn. Con số là thứ duy nhất trong abstract mà không chỗ nào khác thay thế được.
Khung này không hợp bài nào
Bài quan điểm, bài tổng quan hệ thống và bài phương pháp không dùng được khung tám câu ở trên, vì chúng không có câu 5 và câu 6 theo nghĩa thông thường.
Abstract của một bài quan điểm dành phần giữa để nói bài rà y văn theo cách nào và rút ra khái niệm gì, chứ không có kết quả nào để báo. Ép nó vào khung tám câu thì phần đáng giá nhất bị bóp lại.
Với tổng quan hệ thống, phần thay thế Results là số bài lọt vào, số bài phân tích, và chỉ số gộp. Với bài quan điểm, phần thay thế là khái niệm bạn đề xuất và ranh giới của nó. Khung cố định giúp bạn viết nhanh, nhưng chỉ khi loại bài khớp với khung.
Ba lỗi thấy nhiều nhất
Một, Results không có con số. Câu kiểu "the intervention improved outcomes significantly" không nói được gì. Phải có tỉ lệ, hiệu số, khoảng tin cậy.
Hai, Conclusion lặp lại Results thay vì diễn giải. Câu cuối trả lời câu hỏi vậy thì sao, không nhắc lại con số vừa nêu.
Ba, viết tắt chưa mở ngoặc. Abstract đứng một mình khi tách khỏi bài, nên mọi chữ viết tắt ngoài loại phổ biến nhất đều phải giải thích ở lần đầu.
Viết abstract sau cùng, sau khi bản thảo đã xong, vì lúc đó con số mới chốt. Viết đầu tiên thì gần như luôn phải viết lại.
Đọc thêm
Abstract chỉ là một mắt trong cả chặng viết bài. Chỗ khó thật sự nằm ở phần Methods và ở chuyện bài có hợp tạp chí không, mình viết trong bài viết paper tiếng Anh bác sĩ. Phần dựng ý cho Introduction thì nằm ở bài AI viết Introduction, quy trình 30 phút.
Nếu bạn muốn cả chặng từ câu hỏi nghiên cứu tới lúc nộp, khoá Ứng dụng AI trong Nghiên cứu Khoa học của mình đi qua đúng thứ tự đó trong 7 bài, bài đầu mở miễn phí.