Bạn muốn biết một yếu tố trước mổ có liên quan đến biến chứng sau mổ hay không. Nhưng hồ sơ chỉ gồm những người đã có biến chứng. Chọn thiết kế nghiên cứu y khoa lúc này phải bắt đầu bằng câu hỏi ai được đưa vào mẫu, vì sao và kết quả xảy ra lúc nào. Đặt tên thiết kế trước khi kiểm tra dữ liệu rất dễ dẫn đến kết luận quá mức.
Chọn thiết kế nghiên cứu y khoa dựa trên điều gì?
Hãy viết mục tiêu bằng một câu: ước tính tỷ lệ hiện mắc, so sánh nguy cơ giữa các nhóm, hay tìm phơi nhiễm liên quan đến một kết quả hiếm?
Sau đó kiểm tra ba điểm:
- Cách chọn mẫu: từ quần thể chung, theo phơi nhiễm, hay theo tình trạng đã mắc bệnh?
- Trục thời gian: có chứng minh được phơi nhiễm xảy ra trước kết quả không?
- Nhóm so sánh: nhóm đối chứng đến từ đâu, có đại diện cho quần thể nguồn không?
Tài liệu CDC về các thiết kế quan sát phân biệt chúng theo cách chọn người tham gia và đo phơi nhiễm, kết quả. Phần mềm thống kê không quyết định tên thiết kế.
Khi nào nghiên cứu cắt ngang là đủ?
Bạn cần biết tỷ lệ nhân viên y tế đã tiêm vắc xin tại thời điểm khảo sát. Một mẫu lấy từ quần thể đích, với tình trạng tiêm chủng được đo tại cùng giai đoạn, có thể trả lời câu hỏi này.
Nghiên cứu cắt ngang thường ước tính tỷ lệ hiện mắc. Nó cũng có thể phân tích mối liên quan giữa các biến, nhưng khi phơi nhiễm và kết quả được đo đồng thời, rất khó xác định cái nào xảy ra trước. Vì vậy, không nên biến mối liên quan thành khẳng định nhân quả.
Thu thập hồ sơ trong nhiều tháng hoặc chạy hồi quy đa biến không tự biến một khảo sát cắt ngang thành thuần tập.
Khi nào nên chọn nghiên cứu thuần tập?
Giả sử hồ sơ cho phép xác định hai nhóm được điều trị bằng phương pháp khác nhau, biết thời điểm điều trị và theo dõi được biến chứng sau đó. Đây có thể là một thuần tập hồi cứu.
Điểm cần bảo vệ là mốc bắt đầu theo dõi, điều kiện đưa vào mẫu, định nghĩa kết quả và tỷ lệ mất theo dõi. Nếu chỉ lấy các hồ sơ đã có biến chứng rồi truy lại điều trị, cách chọn mẫu đã khác.
Thuần tập không nhất thiết phải tiến hành trong tương lai. CDC mô tả thuần tập hồi cứu với phơi nhiễm và kết quả đều đã xảy ra khi bắt đầu phân tích. Thiết kế này có thể so sánh nguy cơ giữa các nhóm, nhưng vẫn phải xử lý yếu tố nhiễu và sai lệch chọn mẫu.
Khi nào nghiên cứu bệnh chứng hợp lý hơn?
Với kết quả hiếm, theo dõi một quần thể lớn để chờ đủ số ca có thể không khả thi. Nghiên cứu bệnh chứng chọn người đã có kết quả đó và người đối chứng, sau đó so sánh phơi nhiễm trước đây.
Chọn đối chứng mới là chỗ khó. Nhóm đối chứng phải đại diện hợp lý cho quần thể nguồn đã tạo ra các trường hợp bệnh, không chỉ gồm các hồ sơ dễ lấy. Hướng dẫn của CDC nhấn mạnh yêu cầu này.
Thước đo thường dùng là tỷ số chênh (odds ratio). Vì số người bệnh và đối chứng đã được chọn theo thiết kế, không thể lấy tỷ lệ bệnh trong mẫu để suy thẳng ra nguy cơ tuyệt đối của quần thể.
Có dữ liệu rồi thì tự kiểm ra sao?
| Câu hỏi | Cắt ngang | Thuần tập | Bệnh chứng |
|---|---|---|---|
| Chọn mẫu theo gì? | Quần thể khảo sát | Nhóm hoặc phơi nhiễm | Có hoặc không có kết quả |
| Trục thời gian? | Đo cùng giai đoạn | Kết quả sau mốc bắt đầu | Truy lại phơi nhiễm |
| Phù hợp để hỏi? | Hiện mắc bao nhiêu? | Kết quả ở nhóm nào nhiều hơn? | Phơi nhiễm nào liên quan kết quả hiếm? |
| Cần dè chừng? | Chiều thời gian | Nhiễu, mất theo dõi | Chọn đối chứng |
Bảng này chỉ là bước lọc ban đầu. Khi chuẩn bị nghiên cứu, bạn có thể làm rõ quần thể và kết quả bằng cách xây dựng câu hỏi PICO, rồi đối chiếu với khung viết đề cương nghiên cứu y khoa. Hai bước ấy giúp xác định thiết kế trước khi lập danh sách biến và bắt đầu thu thập số liệu.
Dùng STROBE có sửa được lỗi thiết kế không?
Không. STROBE có danh sách kiểm dành cho thuần tập, bệnh chứng và cắt ngang, nhưng đó là hướng dẫn báo cáo. Điền đủ mục không sửa được nhóm đối chứng không phù hợp hoặc trục thời gian thiếu trong dữ liệu.
Khi người phản biện hỏi vì sao chọn thiết kế, câu trả lời phải trở về mục tiêu, nguồn tuyển mẫu và giới hạn suy luận. Tên thiết kế chỉ nên mô tả những gì bạn thực sự làm.
Khóa Y học dựa trên bằng chứng có phần về thiết kế và đọc phản biện nghiên cứu, phù hợp để củng cố bước lựa chọn này.